Dược lý thuốc gây tê: đại cương chung và nhóm thuốc cụ thể

Đánh giá

Dược lý thuốc gây tê: đại cương chung và nhóm thuốc cụ thể

I. Đại cương về thuốc gây tê

1. Định nghĩa

Thuốc gây tê là thuốc có thiên tài ức chế có hồi phục sự phát sinh và dẫn truyền xung động thần kinh từ ngoại vi về trung ương, làm mất xúc cảm ( xúc cảm đau, nóng, lạnh…) của một vùng cơ thể nơi đưa thuốc. Liều cao, thuốc ức chế cả tác dụng đi lại .

2. Hấp thu của thuốc gây tê

Thuốc gây tê thường được dùng bằng cách tiêm hoặc bôi trực tiếp vào nơi cần bao vây thần kinh . Quá trình thâm nhập thuốc gây tê vào tế bào thần kinh để tạo tác dụng thường phải trả i qua 4 giai đoạn sau:

  • Khuếch tán vào mô: mức độ và vận tốc khuếch tán phụ thuộc vào tính chất lý hóa của từng thuốc.
  • Thủy phân trong dịch gian bào: trong lâm sàng, thuốc gây tê thường được dùng dưới dạng muối dễ tan, dạng này không qua màng tế bào ngay được. Dưới tác động của môi trường kiềm nhẹ trong dịch gian bào, thuốc gây tê thủy phân sản xuất dạng base độc lập , tan được trong lipid, dễ ợt qua được màng tế bào.
  • Xâm nhập vào tế bào thần kinh : dạng base dễ tan trong lipid nên dễ ợt qua được màng vào tế bào thần kinh
  • Phát huy tác dụng : khi xâm nhấp vào tế bào thần kinh , do có tính phân cực nên thuốc gây tê sẽ gắn vào phần tử tương ứng của tế bào thần kinh làm ổn định màng nên có tác dụng giảm đau.

3. Tác dụng và vẻ ngoài

– Ở liều thấp, thuốc gây tê chỉ có tác dụng giảm đau, không làm mất các xúc cảm khác.

– Ở liều điều trị và liều cao: ngoài tác dụng giảm đau, thuốc gây tê còn làm mất các xúc cảm khác (xúc cảm nóng, lạnh, đụng chạm…), ức chế dẫn truyền đi lại và có các tác dụng khác ( tác dụng trên tim mạch…).

Tuy nhiên tác dụng của thuốc gây tê vẫn ưu tiên trên dây thần kinh xúc cảm hơn vì kích cỡ sợi xúc cảm nhỏ và ít myelin hơn (các dây thần kinh có độ mẫn cảm với thuốc gây tê đặc biệt : sợi nhỏ mẫn cảm hơn sợi lớn, sợi ít myelin nhạy cả, hơn sợi nhiều myelin)

  • Cơ chế: thuốc gây tê làm giảm tính thấm của màng tế bào với ion Na+ do gắn vào mặt trong của màng tế bào, ngăn cản sự khử cực màng tế bào (ổn định màng) nên ngăn cản dẫn truyền xung động thần kinh chính vì thế có tác dụng gây tê.

4. Các cách gây tê

– Gây tê mặt phẳng : Là gây tê bao vây ngọn sợi thần kinh bằng cách boi hoặc thấm thuốc lên mặt phẳng da hoặc niêm mạc. Phương pháp này thường dùng khi viêm miệng, viêm họng, sẵn sàng nội soi hay đặt nội khí quản…

– Gây tê tiêm ngấm: Là tiêm thuốc gây tê vào dưới da để thuốc thấm vào thần kinh . Phương pháp này thường dùng khi nhổ răng, trích mụn nhọt, ápxe..

– Gây tê dẫn truyền: tiêm thuốc vào cạnh đường dẫn truyền thần kinh hay mô thần kinh như: gây tê thân thần kinh , gây tê bao vây hạch, gây tê đám rối thần kinh , gây tê ngoài màng cứng, trong màng cứng, mạng nhện và tủy sống.

5. Phân loại thuốc gây tê

Dựa vào cấu tạo chia thuốc gây tê thành 3 nhóm:

  • Cấu trúc ester: procain, cocain, benzocain, tetracain…
  • Cấu trúc amid: lidocain, mepivacain, bupivacain, etidocain, prilocain, ropivacain.
  • Cấu trúc khác: fomocain, ethylclorid, pramoxin…

II. Thuốc gây tê có cấu tạo ester

  1. Procain (Novocain)

Dược động học

Procain ít hấp thụ qua niêm mạc nên gây tê mặt phẳng rất kém. Khi uống được hấp thụ nên vừa có tác dụng gây tê niêm mạc tiêu hóa vừa có tác dụng khác. Gây giãn mạch nơi tiêm nên hấp thụ nhanh, chính vì thế khi gây tê bằng đường tiêm phải kết hợp với chất co mạch. Thuốc chuyển hóa nhanh trong cơ thể cơ bản bằng giận dữ thủy phân. Thải trừ đa số qua nước giải .

Tác dụng

  • Gây tê: ít có tác dụng gây tê mặt phẳng do ít thấm qua niêm mạc, cơ bản dùng gây tê bề sâu, gây tê tiổn thoả và thường phải kết hợp với chất co mạch để kéo dài tác dụng gây tê.
  • Trên thần kinh đi lại : làm giảm tác dụng đi lại như giảm dẫn truyền thần kinh – cơ, liều cao gây liệt cơ.
  • Trên thần kinh thực vật: làm giảm tác dụng thực vật như chậm nhịp tim, hạ huyết áp …
  • Trên tim mạch: Thuốc có tác dụng chống loạn nhịp giống quinidin do làm giảm tính hưng phấn, giảm sức co bóp và giảm dẫn truyền nội tại. Thuốc gây giãn mạch, giảm co bóp tim nên giảm huyết áp nhẹ.

Chỉ định

  • Gây tê tiổn thoả , gây tê dẫn truyền
  • Chỉ định khác: phòng và điều trị lão hóa và một số bệnh tim mạch: loạn nhịp, co thắt mạch, xơ cứng mạch, viêm mạch…

Tác dụng không mong muốn

  • Hạ huyết áp bất ngờ
  • Nhưc đầu, chuột rút, co giật
  • Dị ứng

2. Các thuốc khác

– Benzocain: hấp thụ chậm, ít gây độc. Có thể dùng đắp trực tiếp lên vết thương, vết loét. Chế phẩm thường dùng là dạng gel, thuốc mỡ 6-20%

– Tetracain: tác dụng gây tê mạnh hơn procain khoảng 16 lần và cũng độc hơn procain khoảng 10 lần. Thuốc có thể dùng để gây tê tủy sống. Tuy nhiên do độc tính cao nên tetracain cơ bản dùng gây tê mặt phẳng và kết hợp trong nước súc miệng, viên ngậm…để giảm đau, giảm ho, chống viêm

– Cocain: có tác dụng gây tê niêm mạc mạnh và gây co mạch nên được dùng gây tê trong khoa mắt và răng miệng. Tuy nhiên do kích thích thần kinh gây ảo giác và gây nghiện nên ngày nay ít dùng.

III. Thuốc gây tê có cấu tạo amid

1. Lidocain

Dược động học

Lidocain hấp nhận được qua đường tiêu hóa nhưng bị chuyển hóa qua gan lần đầu lớn. Tiêm gây giãn mạch nơi tiêm, chính vì thế nếu dùng gây tê thì thường kết hợp với chất co mạch để giảm hấp thụ thuốc. Vào máu, thuốc liên minh với protein huyết tương khoảng 70%. Thuốc có ái lực cao với đơn vị hơn với huyết tương, đặc biệt là phổi, não kế tiếp đến tim, gan, lách, ruột, cơ và mô mỡ. Thuốc qua nhau thai khoảng 40%. Thuốc chuyển hóa ở gan khoảng 70%bằng giận dữ alkyl hóa và hydroxyl hóa sản xuất hai chất chuyển hóa rất cần thiết là MEGX và GX vẫn còn hoạt tính chống loạn nhịp tim. Thải trừ cơ bản qua nước giải dưới dạng đã chuyển hóa.

Tác dụng

  • Gây tê: lidocain vừa có tác dụng gây tê mặt phẳng do thuốc thấm tốt qua niêm mạc vừa có tác dụng gây tê bề sâu (gây tê dẫn truyền, gây tê tiổn thoả ). Tác dụng của Lidocain mạnh hơn procain khoảng 4 lần và độc hơn. Tác dụng hiện ra nhanh và kéo dài hơn. Vì thuốc gây giãn mạch nơi tiêm nên thường phải kết hợp với các chất co mạch  như noradrenalin, adrenalin ở tỷ lệ 1/80.000 hoặc 1/100.000 để kéo dài tác dụng gây tê và giảm tác dụng không mong muốn của thuốc.
  • Trên thần kinh đi lại và thần kinh thực vật: tác dụng tương tự procain
  • Chống loạn nhịp: giống quinidin, thuốc có tác dụng ổn định màng tế bàolàm giảm tính tự động và rút ngắn thời kỳ trơ của tim. Khác quinidin là lidocain không tác động tới dẫn truyền nội tại tim, ít tác động tới sức co bóp của tim và mạch ngoại vi.
  • Cơ chế: xem phần đại cương thuốc gây tê

Chỉ định

  • Gây tê: gây tê niêm mạc, gây tê tiổn thoả và gây tê dẫn truyền.
  • Chống loạn nhịp tim: loạn nhịp do ngộ độc digtalis, loạn nhịp thất do huyết khối cơ tim, loạn nhịp do thuốc gây mê và ngoại tâm thu.

Tác dụng không mong muốn

  • Dùng gây tê (tại chỗ): có thể gặp viêm tắc tĩnh mạch, viêm mạng nhện , shock phản vệ.
  • Dùng chống loạn nhịp (toàn thân): có thể gặp quay cuòng , buồn ngủ, lú lấp , chậm nhịp tim, hạ huyết áp , co giật.
  • Quá liều gây trụy tim mạch, rung tâm thất, rối loạn nhịp hoặc ngừng tim, ngừng hô hấp có thể gây tử trận .

Chống chỉ định

  • Mẫn cảm với thuốc
  • Hội chứng Adam-Stokes, rối loạn xoang-nhĩ nặng, block nhĩ-thất, suy tim nặng
  • Bệnh nhược cơ
  • Rối loạn tác dụng gan

Tương tác thuốc

Lidocain và các thuốc gây tê cấu tạo amid chuyển hóa ở gan nên các thuốc ức chế enzym gan như thuốc kháng H2 (Cimetidin) làm tăng tác dụng và kéo dài tác dụng của lidocain và các thuốc gây tê cùng loại.

Dùng đồng thời thuốc ức chế beta-adrenergic với lidocain có thể làm chậm chuyển hóa lidocain do làm giảm lưu lượng máu tới gan dẫn đến tăng nguy cơ ngộ độc lidocain.

2. Các thuốc khác

a. Bupivacain

Tác dụng gây tê tương tự lidocain nhưng mạnh hơn, thời gian hiện ra tác dụng chậm và gia hạn lâu hơn, có thể kéo dài tới 12 giờ nếu được liên minh với chất co mạch adrenalin hoặc noradrenalin. Vì vậy, bupivacain phù hợp cho các giải phẫu kéo dài. Liều cao thuốc gây giãn cơ và ức chế đi lại . Chỉ định cơ bản là gây tê dẫn truyền, gây tê tủy sống.

b. Mepivacain

Tác dụng gây tê tương tự lidocain nhưng không gây tê mặt phẳng và yếu hơn lidocain khoảng 2 lần. Tác dụng hiện ra mau lẹ hơn và kéo dài hơn. Thuốc ít gây giãn tĩnh mạchnên khi gây tê có thể không cần dùng chất co mạch. Thuốc cơ bản dùng gây tê tiổn thoả và gây tê dẫn truyền.

c. Etidocain

Có thời gian tác dụng kéo dài hơn lidocain 2-3 lần, hoạt tính gây tê mạnh hơn. Thường dùng gây tê tiổn thoả và gây tê dẫn truyền ( không dùng gây tê tủy sống). Thuốc gây kích thích thần kinh trung ương, liều cao có thể gây co giật nên không chuyên dụng cho người bệnh động kinh.

Copy ghi nguồn TrungTamThuoc.com

Link bài viết :Dược lý thuốc gây tê: đại cương chung và nhóm thuốc cụ thể

Tài liệu tham khảo :

Giáo trình Dược lý học, tập 1, Nhà xuất bản Y học, 2012, trang 87-93.

Item :185

Thuốc gây tê là thuốc có khả năng ức chế có hồi phục sự phát sinh và dẫn truyền xung động thần kinh từ ngoại vi về trung ương, làm mất cảm giác nơi đưa thuốc

Ngày viết:
Ga chống thấm Cotton là trang web chuyên chia sẻ kiến thức và kinh doanh sản phẩm Ga Chống Thâm Cotton 100% uy tín tại Việt Nam, với mong muốn đưa sản phẩm hàng Việt tới tay người tiêu dùng